NatSteelVina với 3 cải tiến mang tính đột phá

NatSteelVina với 3 cải tiến mang tính đột phá
Tháng Chín 29, 2021 No Comments » Tin doanh nghiệp Nguyễn Mạnh Lực

Là một trong những công ty liên doanh đầu tiên trong ngành sản xuất thép, NatSteelVina – Thép Việt Sing trong quá trình chuyển mình vươn lên đã có những sáng kiến cải tiến mang tính đột phá, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Phần 1 đã đề cập đến Nghiên cứu lắp đặt hệ thống cán nâng mác – công nghệ Quenching trong sản xuất thép xây dựng. Có những sáng kiến khác trong quá trình sản xuất cũng đã mang lại hiệu quả cao. Sau đây bài viết sẽ đề cập đến một cải tiến nổi bật ấy.

Phần II:

CÂN CẮT CHỌN PHÔI ĐỂ ĐƯA VÀO SẢN XUẤT NHẰM GIẢM THIỂU ĐUÔI THÉP – IBL (Individual Between Leng)

         Ra đời từ năm 1993, lò nung của Công ty theo thiết kế chỉ cho phép nạp loại phôi có chiều dài 3,6m (trong khi các dây truyền hiện đại về sau này thì lò nung phôi cho phép nạp lò nung với thanh phôi 12m). Với sự bất lợi này thì từ năm 1993 đến tháng 1 năm 1995 sản xuất thép cuộn là chủ yếu. Đến đầu năm 2005 bắt đầu sản xuất thép thanh.

         Khi sản xuất thép thanh thì cũng là lúc phát sinh ra rất nhiều đuôi thép (IBL) do không đủ chiều dài thanh thép tiêu chuẩn. Các phòng ban đã cùng ngồi với nhau xem xét nguyên nhân dẫn đến IBL nhiều là do:

          Lò nung sau khi cải tạo sử dụng được phôi dài 4m (vẫn chưa thể tốt bằng các dây truyền mới hiện đại dùng lò nung để nạp lò được 12m). Do vậy với lò nung của NatSteelVina để sản xuất 1 thanh phôi ra sản phẩm các loại sẽ có số thanh IBL gấp 3-4 lần số thanh so với lò nung của các đơn vị khác dùng lò 12m.

         Thực tế điều kiện của Công ty chưa cho phép để cải tạo lò nung rộng thêm được. Chính vì vậy, Công ty đã nghiên cứu đến việc cân và đo chiều dài của từng thanh phôi để tính toán khối lượng Kg/1m chiều dài cho từng loại cỡ sản phẩm để cắt theo đúng chiều dài từng thanh phôi để cắt 3-4m/thanh phôi chuẩn đó sao cho giảm thiểu IBL nhiều nhất có thể của sản phẩm thép thanh.

                  Qua nghiên cứu cho thấy việc áp dụng cân cắt có hiệu quả với toàn bộ các sản phẩm thép thanh có kích cỡ từ d14 đến d32. Thời gian triển khai bắt đầu từ tháng10 năm 2005 đến nay và đã làm lợi cho Công ty giá trị không hề nhỏ, đóng góp chung vào giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.

         Đây là bài toán cần thực hiện qua nhiều bước, từ phần lập cơ sở dữ liệu tính toán như trọng lượng của thanh phôi liên quan đến từng sản phẩm với độ dài tiêu chuẩn, và các thông số khác trong quá trình công nghệ như cắt đầu đuôi của các máy cắt, cháy hao…

(Quá trình hạ phôi và chuẩn bị cho cân cắt)

Quá trình tính toán đảm bảo lựa chọn loại phôi khác nhau có tiết diện, độ dài xác định để phù hợp với từng loại sản phẩm cho việc cân cắt phôi tương ứng.

Công việc kiểm soát trọng lượng của sản phẩm và phôi quy ra đơn vị chiều dài cho từng phôi giúp xác định các số liệu trong quá trình tính toán là rất quan trọng. Công đoạn cắt bằng hàn hơi sau khi đã xác định đơn trọng từng phôi được quy ra độ dài của mỗi đoạn phôi cho từng sản phẩm. Phôi sau khi đã cắt này được tập kết phân loại để đưa vào sản xuất đảm bảo sự đồng bộ và chính xác.

Quá trình cắt sau khi đã xác định kích thước chuẩn cho từng loại sản phẩm ứng với từng loại phôi khác nhau

Quá trình đưa vào sản xuất vẵn tiếp tục theo dõi và đánh giá và tổng kết quả để có sự điều chỉnh phù hợp.

Tập kết phôi đã cắt cho các loại sản phẩm khác nhau

Hiệu quả mang lại của giải pháp này cho thấy: Giai đoạn trước khi cân cắt chọn phôi cho từng loại sản phẩm từ năm 2005 đến 2011 khi chưa sản xuất d28 và d32 thì tỷ lệ IBL chiếm 3% . Trong khi đó nếu không cân căt chọn phôi – với các sản phẩm to như d28, d32 thì IBL lên tới 8%. Hiện tại cân cắt chọn phôi cho từng loại sản phẩm thì IBL bình quân cho các loại sản phẩm từ d9-d32 chiếm khoảng 1-1,3%.

Lượng tiết kiệm được trong quá trình sản xuất cũng là đáng kể.  Lấy một phép tính đơn giản. Năm 2020 sản xuất và tiêu thụ 160.000 tấn trong đó 79.000 tấn thép thanh (D14-D32). Nếu không cân cắt thì tính bình quân IBL là 3% thì cho ra lượng IBL hơn 2.370 tấn.  Nếu có cân cắt thì IBL giảm xuống còn (lấy mức trung bình cao) là 1,3%, tương đương hơn 1.027 tấn. Chênh lệch giữa giá chính phẩm và thép ngắn dài (IBL) của hơn 1.300 tấn cho thấp một con số không hề nhỏ trong việc giảm giá thành.

Trên đây là trình bày những nét cơ bản giải pháp cải tiến quá trình cân cắt phôi phục vụ cho sản xuất của Phòng Kho-KCS. Giải pháp này đã mang lại hiệu quả rất ấn tượng, đóng góp vào sự thành công và phát triển của Thép Việt-Sing. Với tinh thần liên tục đổi mới và sáng tạo, Phòng Kho – KCS vẫn tiếp tục phát huy sức sáng tạo và không ngừng phấn đấu để góp phần xây dựng Công ty ngày một lớn mạnh.

 (Còn nữa)

Giang Lê.

Leave a reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *