Tin tức  Tin thị trường

Tình hình thị trường Thép Trung Quốc tuần 2 tháng 4/2025

Tình hình thị trường

Thị trường Trung Quốc tuần từ ngày 7 đến ngày 11 tháng 04 năm 2025 như sau:

chuyên gia, giá các sản phẩm thép chính của Trung Quốc bao gồm thép thanh, phôi vuông và cuộn cán nóng (HRC) đã giảm trong tuần trước, chủ yếu do tâm lý thận trọng của thị trường trước căng thẳng thương mại leo thang giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Theo khảo sát hàng tuần của các chuyên gia, giá thép cây d20mm tiêu chuẩn Trung Quốc Theo khảo sát mới nhất của các HRB400E ngày 11 tháng 4 năm 2025 trên toàn lãnh thổ của Trung Quốc đã giảm giá 58 Nhân dân tệ/tấn so với tuần trước về mức giá 3297 Nhân dân tệ/tấn (451 USD/tấn) bao gồm 13% VAT.

Cũng theo kết quả khảo sát hàng tuần cho thấy, giá quặng sắt nhập khẩu của Trung Quốc đã giảm trên cả thị trường giao ngay và tương lai trong tuần trước, khi tâm lý thị trường dao động trong bối cảnh bất ổn về thuế quan do chính sách thuế quan mạnh tay của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump gây ra. Mặc dù vậy, các nhà sản xuất thép trong nước vẫn tích cực sản xuất kim loại nóng vào tuần trước, với tỷ lệ sử dụng công suất lò cao trong số 247 nhà máy thép Trung Quốc tiếp tục tăng trong tuần thứ bảy liên tiếp lên mức trung bình 90,19% trong giai đoạn từ ngày 4 đến ngày 11 tháng 4, mức cao nhất kể từ giữa tháng 11 năm 2023. Giá quặng sắt 62% Fe nhập khẩu từ Úc CFR tại cảng Thanh Đảo ngày 3 tháng 04, ngày cuối cùng trước kỳ nghỉ lễ Thanh Minh kéo dài ba ngày của Trung Quốc đã giảm 1,65 USD/tấn so với tuần trước về mức giá 101,45 USD/tấn. Giá quặng giao tại các kho ven cảng vẫn duy trì mức ổn định chỉ giảm 2 Nhân dân tệ/tấn (0,3 USD/tấn) so với tuần trước xuống mức giá 785 nhân dân tệ/tấn (108 USD/tấn) đã bao gồm 13% VAT.

Động lực tăng trưởng của thị trường than luyện kim Trung Quốc đã suy yếu trong tuần qua, khi sự bất ổn về thị trường thép trong nước gia tăng cùng với căng thẳng thương mại leo thang giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Giá than mỡ luyện cốc tổng hợp ngày 11 tháng 4, chỉ tăng nhẹ 9 Nhân dân tệ/tấn (1,2 USD/tấn) so với tuần trước, lên mức giá 1100 Nhân dân tệ/tấn bao gồm gồm 13% VAT. Một nhà quan sát có trụ sở ở Thượng Hải cho biết: “Thị trường chứng khoán toàn cầu đã bị ảnh hưởng bởi một loạt các biện pháp thuế quan do Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump áp đặt đối với tất cả các giao dịch với 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, điều này cũng tạo nhiều thách thức và tâm lý hoang mang cho những người tham gia thị trường, mặc dù họ đang có niềm tin về xu hướng giá than mỡ luyện cốc vẫn tiếp tục tăng trong tương lai… ”

Bên cạnh đó, giá phế liệu sắt của Trung Quốc đã giảm với tốc độ nhanh hơn vào tuần trước song song với việc giá thép thành phẩm trong nước giảm. Tâm lý giảm giá thép chính phẩm là yếu tố thúc đẩy các nhà cung cấp phế liệu đẩy nhanh doanh số bán hàng, giảm tồn kho. Theo khảo sát ngày 11 tháng 4, giá thép phế liệu tổng hợp của nước này tiếp tục điều chỉnh giảm 68 Nhân dân tệ/tấn (9,4 USD/tấn) so với tuần trước, về mức giá 2407 Nhân dân tệ/tấn bao gồm 13% VAT. Một nhà quan sát có văn phòng tại Thượng Hải cho biết: “Giá thép phế đã giảm mạnh 2,7 % so với một tuần trước đó. Ngay khi giá thép chính phẩm mới giảm 1,7%. Đây là động thái đón đầu, cắt lỗ của các nhà cung cấp thép phế liệu, khi hiệu quả sản xuất thép chính phẩm từ thép phế đang bị lép vế trước sản xuất thép từ quặng…”

Nhận định thị trường:

Thép thành phẩm

Giá của hai sản phẩm sản phẩm thép dài (thép cây & thép cuộn): Giá của hai sản phẩm thép dài có khả năng dao động hẹp trong khoảng thời gian từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 4, với sản lượng của các nhà máy tăng nhẹ, trong khi nhu cầu hạ nguồn dự kiến ​​sẽ tăng thêm. Tâm lý thị trường sẽ thận trọng trong bối cảnh bất ổn về điều kiện kinh tế vĩ mô.

• Tâm lý chính sách/thị trường:

 

Theo số liệu mới nhất do Tổng cục Hải quan (GACC) công bố vào ngày 14 tháng 4, Trung Quốc đã công bố mức tăng 1,3% so với cùng kỳ năm ngoái về giá trị thương mại nước ngoài trong quý đầu tiên của năm nay, với tổng giá trị đạt 10,3 nghìn tỷ Nhân dân tệ (1,4 nghìn tỷ USD). Trong bối cảnh thách thức bên ngoài ngày càng gia tăng, tất cả các địa phương, bộ ngành và doanh nghiệp ngoại thương của Trung Quốc đã tích cực ứng phó, giúp ngoại thương Trung Quốc có khởi đầu vững chắc trong quý đầu tiên, GACC nhận định. Trong tổng giá trị trong quý 1, giá trị xuất khẩu của nước này tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước. Cũng theo số liệu từ ​​ GACC công bố vào ngày 14 tháng 4, xuất khẩu thép thành phẩm của Trung Quốc đạt tổng cộng 27,43 triệu tấn trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, tổng khối lượng xuất khẩu là cao nhất trong quý đầu tiên kể từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2016. Riêng trong tháng 3, xuất khẩu thép của nước này đã tăng 5,7% so với cùng kỳ năm ngoái lên 10,46 triệu tấn, là khối lượng hàng tháng cao nhất trong tháng 3 kể từ khi GACC bắt đầu thống kê vào năm 2006. Các lô hàng thép của Trung Quốc ra nước ngoài trong tháng 3 chủ yếu là để đáp ứng các đơn đặt hàng đã ký từ một đến hai tháng trước đó, khi nhu cầu thép trong nước của Trung Quốc vẫn ảm đạm, trong bối cảnh sản lượng vẫn đang duy trì mức độ trung bình.

• Giá cả: Thép thành phẩm có thể tiếp tục dao động với xu hướng tăng trong bối cảnh nhu cầu nội địa Trung Quốc tăng, nhưng ảnh hưởng tâm lý về chính sách thuế của Mỹ chưa được cải thiện.

Nguyên liệu thô

• Giá quặng sắt: Dự kiến có khả năng ổn định hoặc biến động tăng nhẹ khi nhu cầu có tăng nhưng ảnh hưởng của chính sách thuế của Mỹ vẫn gây tâm lý lo lắng cho những người tham gia thị trường.

• Giá than mỡ luyện cốc: Dự kiến sẽ tiếp tục xu hướng ổn định, hoặc tăng nhẹ khi nhu cầu vẫn giữ ổn định và nguồn cung giảm đôi chút sau sự cố nổ hầm lò tại mỏ Jinhe thuộc tỉnh Cam Túc, tây bắc Trung Quốc.

• Giá than cốc: Dự báo có thể ổn định, trong bối cảnh nhu cầu thép thành phẩm tăng nhẹ nhưng áp lực giảm giá than cốc từ các nhà sản xuất thép vẫn duy trì.

• Giá thép phế: Giá thép phế có thể ổn định hoặc dao động giảm. Trong bối cảnh giá thép thành phẩm có mức chênh lệch với giá thép phế chưa đủ lớn khiến cho các nhà sản xuất thép BF giảm tỉ trọng thép phế liệu.

 

Việt Cường

Các tin khác

02083.832.258